Cambridge và những điều còn mãi trong tôi

Có quá nhiều điều để nói về nước anh trong mắt tôi. Mỗi thành phố tôi đi qua, mỗi người tôi gặp đếu để lại những ấn tượng đều đẹp. Mỗi sự kiện tôi trải qua, mỗi câu chuyện tôi chứng kiến đếu có ảnh hưởng tích cực đến suy nghĩ và cách sống của tôi. Tôi những muốn viết tất cả cả cảm nhận mình về nước Anh, nhưng lại sợ rằng không có đủ chỗ. Vì vậy tôi xin được kể đôi lời về thành phố Cambridge, nơi tôi đã sinh sống và học tập một năm trong thời gian làm thạc sỹ tại Khoa Giáo Dục, Trường Đại Học Cambridge


Cambridge - Thành phố cổ kính và thanh bình.


Đặt chân tới Cambridge, tôi cứ ngỡ mình đang bước vào một thế giới cổ tích. Cambridge vừa uy nghi vừa thanh bình với những tòa nhà mái vòm cổ kính hàng trăm năm tuổi, những vườn cây cổ thụ, những chú sóc chuyền cành, những chú ngựa nhẩn nha, những chú thỏ chạy nhảy lon ton trên đồng cỏ xanh mướt ở ngoại ô thành phố.

Ấn tượng ngày đầu tiên đi dạo quanh Cambridge đó là màu xanh bạt ngàn của cây cỏ và những sắc màu rực rỡ của đủ mọi loài hoa cho dù lúc tôi đến là đầu mùa thu. Thảm cỏ, vườn hoa, cây xanh ở khắp mọi nơi, phải chiếm đến 3/4 diện tích của thành phố. Hoa cứ ở đây đua nhau nối tiếp nở suốt ba mùa. Mỗi loài hoa chỉ nở rộ vào một thời điểm nhất định rồi tàn lúc nào không hay, làm cho tôi đôi khi phải tiếc ngẩn ngơ vì vẫn chưa kịp chụp ảnh để lưu giữ lại khoảnh khắc đẹp nhất chỉ có một lần trong năm.

Và bầu trời có những màu xanh thật kỳ diệu. Trừ mùa đông trời u ám, ba mùa còn lại mỗi mùa xanh một vẻ: mùa xuân xanh tươi sáng; mùa hè xanh trong vắt, mùa thu xanh ngăn ngắt trầm buồn.

Và thiên nhiên sao gần gũi đến thế! Nắng không gắt gỏng mà cứ dịu dàng ban phát ánh sáng đều khắp mọi nơi. Mưa không xối xả, mà cứ từ tốn gõ nhẹ lên ô cửa kính. Gió không quay cuồng bão táp, mà khi thì hiu hiu thổi nhẹ, lúc lại vi vu, rì rầm trò chuyện cùng tán cây. Ngay cả tuyết ở đây cũng nhẹ nhàng lắm. Sáng ra thấy lất phất bên ngoài khung cửa, ngoảnh đi ngoảnh lại tuyết đã phủ trắng bờ rào và sân vườn.

Và động vật cũng vô cùng thân thiện với con người. Chim bồ câu thấy người là xà xuống. Thiên nga, vịt trời thấy người là chạy tới. Mùa xuân vừa rồi, nhà tôi đã từng tiếp đón mấy chú chim đi lạc. Chúng cứ tự nhiên đi lạc vào sân nhà tôi và để chúng tôi bắt một cách dễ dàng.

Cambridge - Thành phố của những con người hiền hòa, tốt bụng và lịch sự.


Có lẽ vì sống ở xử sở thiên nhiên thanh bình, nên những con người ở đây cũng có một lối sống hiền hòa, không xô bồ như ở các thành phố lớn khác ở Anh. Trong công viên luôn có những người nhẩn nha đi bộ, trên bãi cỏ luôn có những nhóm bạn ngồi thảnh thơi trò chuyện, và trên các băng ghế dù ở vườn trường, trong công viên hay giữa quảng trường thành phố, luôn có người ngồi đọc sách chăm chú say mê.

Và có thể lối sống chậm rãi đã làm cho người dân nơi đây trở nên tốt bụng hơn. Họ luôn mỉm cười và sẵn sàng giúp đỡ. Chỉ cần thấy tôi ngơ ngác trong thư viện, cô thủ thư đã chạy lại để giúp đỡ. Chỉ cần thấy tôi có vẻ lạc đường, những người đi đường đều ngỏ lời trước để giúp tôi. Thậm chí có lần, tôi hỏi đường một bác trạc 60 tuổi đang lọ mọ đi xe đạp trên đường. Tuy bác không biết đường nhưng vẫn nhiệt tình quay về nhà lấy bản đồ đưa cho tôi, mặc cho tôi từ chối vì không muốn làm phiền bác.

Cambridge – Thành phố của học thuật.


Cambridge là thành phố lý tưởng của học thuật không chỉ bởi vì thiên nhiên thanh bình và nhịp sống khoan hòa không đua chen khiến cho các sinh viên tập trung hơn vào công việc nghiên cứu. Cambridge là thiên đường của học thuật là bởi sự đa dạng của các cơ hội và điều kiện thuận lợi mà nó phơi bày ra cho người theo học nơi đây. Hệ thống thư viện hiện đại, các giáo sư giỏi và tận tâm là hai điều khiến trường Đại Học Cambridge được bạn bè quốc tế ngưỡng mộ.

Tôi được quyền tiếp cận tới những bốn thư viện. Thư viện của Community, nơi tôi ở. Thư viện Khoa. Thư viện của College. Và thư viện University. Tuy tất cả những sách và tạp chí tôi cần đều có thể tìm thấy ở thư viện Khoa, nhưng thỉnh thoảng tôi cũng đến thư viện của University, nơi tôi có thể kính cẩn chiêm ngưỡng những cuốn sách cổ hàng trăm năm tuổi, nơi tôi có thể tìm thấy bất kỳ cuốn sách nào đã xuất bản ở Anh và những cuốn sách giá trị của nhiều quốc gia khác. Mỗi lần đến đây, chứng kiến khung cảnh uy nghiêm cổ kính và không khí miệt mài nghiên cứu của sinh viên, tình yêu đối với khoa học trong tôi càng được hun đúc thêm.

Ngoài hệ thống thư viện lý tưởng, điều giúp Cambridge trong những năm qua liên tục đứng đầu trong bảng xếp hạng của QS World University Rankings chính là tutorial system. Là một graduate student tôi có một tutor và một supervisor. Tutor có trách nhiệm giúp đỡ tôi giải quyết các vấn đề trong đời sống, ví dụ sức khỏe, tài chính v.v… , còn supervisor hướng dẫn các vấn đề liên quan đến học thuật.  Tôi thấy mình không học được nhiều seminar, lecture trên lớp mà chủ học được nhiều nhất thông qua các buổi supervision khoảng hai tuần một lần. Supervisor của tôi rất tận tâm, có thể nói chuyện với tôi ba giờ đồng hồ liền, dù theo qui định mỗi buổi supervision chỉ kéo dài một tiếng. Điều tôi học được từ các supervisor của tôi không chỉ là kiến thức, mà quan trọng hơn là tinh thần nghiêm túc trong nghiên cứu khoa học và sự tận tâm với công việc.

Cambridge giá trị còn mãi trong tôi.


Chỉ một năm thôi. Không thể nói là dài so với quá trình trưởng thành của một con người. Nhưng một năm ở Cambridge có ảnh hưởng rất lớn đến con đường phát triển của tôi trong tương lai. Với tấm bằng của Cambridge, những cơ hội sẽ mở ra trước mắt tôi, có lẽ thế! Nhưng điều quan trọng không phải ở cơ hội phía trước. Điều quan trọng là một năm ở đây đã đem lại rất nhiều điều thay đổi trong tôi. Tôi suy nghĩ lạc quan tích cực hơn. Tôi sống hiền hòa và vui vẻ hơn. Những suy tư căng thẳng nhiều mâu thuẫn của một con người con người đến từ một vùng “đất khổ” (land of sorrow) đã không còn làm khổ tôi nữa. Tôi biết nhìn những gì đang diễn ra ở đất nước tôi bằng con mắt bao dung hơn, ít trách móc hơn. Tại sao Cambridge lại có thể mang lại cho tôi những điều to lớn này? Có lẽ bởi những điều tốt đẹp tôi được trải qua nơi đây đã khơi gợi những điều tốt đẹp trong tôi, và qua đó giúp tôi tìm thấy sự hài hòa trong tư tưởng và lối sống của mình.

Cảm ơn Cambridge. Nhớ quá đi thôi…

Tạ Thanh Bình
Cambridge University

Chính trị tại Úc

Chính trị tại Úc

Lịch sử hình thành và phát triển của Úc

Lịch sử Australia 

Nước Úc đã có rất nhiều thay đổi kể từ khi những cư dân nguyên thủy, tức là Thổ Dân Úc, sống trong các hệ thống xã hội phức tạp với những tập tục truyền thống phản ảnh mối liên hệ mật thiết với đất đai và môi trường. bắt đầu từ thời kỳ những người từ lục địa châu Á di cư tới châu Úc vào khoảng 40.000-45.000 năm trước. Lịch sử được ghi nhận của châu Úc bắt đầu từ khi những nhà thám hiểm người Hà Lan phát hiện ra lục địa này từ thế kỷ 17. Vấn đề làm rõ châu Úc hiện vẫn gây tranh cãi với một số người, đặc biệt là liên quan đến sự di cư của những người Anh và sự đối xử với Thổ dân châu Úc.

Thời tiền sử

Thời tiền sử của châu Úc là giai đoạn cách đây khoảng 41.000-46.000 (có thể lên tới 68.000 năm, theo một số học giả) giữa giai đoạn có sự cư trú của loài người tại lục địa châu Úc cho tới lúc người châu Âu phát hiện ra châu lục này năm 1606, năm mà có thể được coi là bắt đầu lịch sử châu Úc. Giai đoạn này có thể coi là thời tiền sử hơn là lịch sử do không có những tài liệu được ghi lại về những sự kiện của con người liên hệ đến thời kỳ này.

Mối liên hệ châu Á

Trong ít nhất một vài thế kỷ, người Macassar đã có thông thương với Thổ dân châu Úc ở phần eo biển Bắc Australia, đặc biệt là ở Yolngu thuộc vùng đất Arnhem.
Trong bản đồ đầu tiên của thế giới được biết đến, được làm năm 1603 bởi Matteo Ricci, một thầy tu Dòng Tên người Ý đã có quãng thời gian dài sống ở Trung Quốc, ghi chú rằng có một vùng đất trống nơi ngày nay là Australia: "Chưa ai đã tới vùng đất này ở phía nam, do đó chúng tôi không biết gì về nó". Trong những ký tự nhỏ hơn ông viết bằng tiếng Trung "vùng đất lửa" và "vùng đất của những chú vẹt" được suy đoán rằng người Trung Hoa đã ý thức và có thể đã phát hiện ra Australia từ trước đó.

Sự phát hiện của người châu Âu

Nhà thám hiểm James Cook, người được
 coi là người tìm ra lục địa châu Úc
Cư dân nguyên thủy ở Úc, thường được gọi là Thổ Dân Úc hay Người Bản Địa Úc, có nền văn hóa tiếp nối
lâu đời nhất trên thế giới, bắt nguồn từ Kỷ Băng Hà. Mặc dù truyền thuyết và tranh luận đã khiến nhiều lãnh vực của thời tiền sử Úc trở nên mơ hồ nhưng nói chung người ta vẫn chấp nhận một điều là tổ tiên của Người Thổ Dân có nguồn gốc từ Indonesia và họ đã vượt biển tới đây từ khoảng 70.000 năm trước. Người Âu Châu bắt đầu thám hiểm Úc Châu vào thế kỷ 16. Thoạt tiên là các nhà hàng hải Bồ Đào Nha và sau đó là các nhà thám hiểm Hòa Lan và tên hải tặc bạo gan người Anh William Dampier. Vào năm 1770, thuyền trưởng James Cook đã lái thuyền đi dọc toàn bộ bờ biển phía đông Úc Châu và đã ghé vào vịnh Botany Bay. Ngay sau đó thuyền trưởng Cook tuyên bố vùng lục địa này thuộc chủ quyền của Anh Quốc và đặt tên là New South Wales. Đến năm 1779, Joseph Banks (một nhà tự nhiên học trên chuyến du hành của James Cook) đưa ra ý kiến là Anh Quốc có thể giải quyết vấn đề quá tải của nhà tù bằng cách chuyển bớt tù nhân đến New South Wales. Năm 1787, đoàn thuyền đầu tiên với 11 chiếc tàu chở 750 tù nhân nam nữ đã khởi hành tới New South Wales và đã đến Úc ngày 26 tháng Giêng năm 1788 nhưng sau đó đoàn thuyền đã đi lên mạn bắc đến Sydney Cove nơi điều kiện đất đai và nước uống thuận tiện hơn. Đối với những người mới đặt chân đến Úc, New South Wales là nơi khắc nghiệt và khủng khiếp, đó là chưa kể đến tình trạng thuộc địa mới này bị đe dọa thiếu thốn thực phẩm trong nhiều năm trời. Để chống chịu với cuộc đấu tranh chống lại thiên nhiên và một chính quyền áp bức, những cư dân Úc mới đã xây dựng và phát triển một nền văn hóa và chính nền văn hóa này đã trở thành nền tảng của huyền thoại “Aussie battler”. Trong mấy thập niên sau đó, Úc Châu trở thành nơi hấp dẫn những người định cư tự do. Nhưng chỉ đến những năm của thập niên 1850, chính việc khám phá vàng mới thực sự thay đổi vĩnh viễn thuộc địa này. Các làn sóng di dân khổng lồ đã tràn đến Úc và việc khám phá một số mỏ vàng lớn đã góp phần đẩy mạnh nền kinh tế cũng như thay đổi cơ cấu xã hội thuộc địa của Úc. Những thành phần mới đến định cư đã tàn nhẫn xua đuổi người Thổ Dân và chiếm đoạt đất đai của họ để cấy cày hoặc khai thác mỏ. Đến cuối thế kỷ 19, rất nhiều người đã có khuynh hướng lý tưởng hóa “vùng rừng rậm” – “the bush” (tức là bất kỳ nơi nào ở cách xa thành phố) và con người sinh sống ở đấy. Một diễn đàn lớn về “chủ nghĩa quốc gia vùng rừng rậm” (bush nationalism) chính là tạp chí Bulletin khá phổ biến. Nội dung của tạp chí này chứa đầy những hình ảnh hài hước và tình cảm về cuộc sống đời thường. Hai ngòi bút nổi tiếng nhất của tạp chí Bulletin chính là hai huyền thoại Henry Lawson và 'Banjo' Paterson.